Điều 39 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15: Thụ lý hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài
Chương III CHUYỂN GIAO NGƯỜI ĐANG CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ TẠI VIỆT NAM CHO NƯỚC NGOÀI
Điều 39. Thụ lý hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài
1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền phải thụ lý và thông báo bằng văn bản cho Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật này thì thời hạn thụ lý hồ sơ là 05 ngày. Trong thời hạn chuẩn bị xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, nếu hồ sơ yêu cầu chuyển giao chưa đầy đủ thông tin, tài liệu hoặc có điểm chưa rõ hoặc có mâu thuẫn thì Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền đề nghị Bộ Công an yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước nhận bổ sung thông tin, tài liệu. Thời hạn bổ sung thông tin, tài liệu là 20 ngày kể từ ngày Bộ Công an có văn bản yêu cầu.
2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý, tùy từng trường hợp mà Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền ra một trong các quyết định sau đây:
a) Quyết định xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện theo quy định của Luật này. Quyết định này phải được gửi cho người được đề nghị chuyển giao, luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của người đó (nếu có);
b) Quyết định đình chỉ việc xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù theo quy định tại khoản 3 Điều này và trả hồ sơ cho Bộ Công an. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật này thì thời hạn ra một trong các quyết định tại khoản này là 10 ngày. Các quyết định tại khoản này phải được chuyển ngay cho Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
3. Tòa án nhân dân khu vực quyết định đình chỉ việc xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không thuộc thẩm quyền;
b) Cơ quan có thẩm quyền của nước nhận rút lại yêu cầu chuyển giao;
c) Người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó rút lại đơn đề nghị được chuyển giao;
d) Cơ quan có thẩm quyền của nước nhận không bổ sung thông tin, tài liệu trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này;
đ) Lý do khác mà việc xem xét yêu cầu chuyển giao không thể tiến hành được.
4. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định xem xét yêu cầu chuyển giao, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền phải mở phiên họp sơ thẩm xem xét yêu cầu chuyển giao. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật này thì thời hạn mở phiên họp xem xét yêu cầu chuyển giao là 10 ngày.
Nguyên văn theo Công báo. Bấm vào một khoản để sao chép trích dẫn khoản đó.