Điều 43 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15: Hủy quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù
Chương III CHUYỂN GIAO NGƯỜI ĐANG CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ TẠI VIỆT NAM CHO NƯỚC NGOÀI
Điều 43. Hủy quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù
1. Quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù chưa có hiệu lực pháp luật bị hủy trong trường hợp sau đây:
a) Người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó rút lại đơn đề nghị được chuyển giao hoặc thể hiện nguyện vọng không muốn chuyển giao bằng văn bản;
b) Nước nhận rút lại yêu cầu chuyển giao;
c) Người đang chấp hành án phạt tù chết hoặc bỏ trốn khỏi Việt Nam;
d) Trường hợp khác mà việc bàn giao người đang chấp hành án phạt tù không thể thực hiện được.
2. Quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù có hiệu lực pháp luật bị hủy trong trường hợp sau đây:
a) Trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này;
b) Quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù bị hủy.
3. Quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù bị hủy trong trường hợp sau đây:
a) Trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều này;
b) Người được bàn giao không phải là người trong quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù;
c) Cơ quan có thẩm quyền của nước nhận không tiếp nhận người được chuyển giao đúng thời gian, địa điểm đã được thống nhất mà không có lý do chính đáng hoặc việc chuyển giao không được tiến hành trong thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 42 của Luật này.
4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Bộ Công an, Chánh án Tòa án nhân dân có thẩm quyền hủy quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này; hủy quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù quy định tại khoản 3 Điều này. Các quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành và phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Bộ Công an, cơ quan có thẩm quyền của nước nhận, người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó.
5. Việc xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1, điểm c khoản 3 Điều này chỉ được thực hiện sau ít nhất là 03 năm kể từ ngày quyết định hủy quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù có hiệu lực pháp luật.
Nguyên văn theo Công báo. Bấm vào một khoản để sao chép trích dẫn khoản đó.