Điều 64 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển
Chương VI TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ › Mục 1 QUYỀN VÀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA NGƯỜI VẬN CHUYỂN
Điều 64. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển
1. Người vận chuyển có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hành khách chết hoặc bị thương do tai nạn xảy ra trong tàu bay hoặc trong quá trình người vận chuyển đưa hành khách lên tàu bay hoặc rời tàu bay.
2. Người vận chuyển có trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra trong trường hợp hành lý ký gửi bị phá hủy, bị mất hoặc bị hư hỏng do sự kiện xảy ra trên tàu bay hoặc khi hành lý ký gửi nằm trong sự quản lý của người vận chuyển. Người vận chuyển không phải chịu trách nhiệm nếu thiệt hại xảy ra là do đặc tính tự nhiên hoặc khuyết tật vốn có của hàng hóa. Đối với hành lý xách tay, kể cả các vật dụng cá nhân, người vận chuyển phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu thiệt hại gây ra từ lỗi của người vận chuyển, nhân viên hoặc đại lý của người vận chuyển.
3. Trường hợp người vận chuyển thừa nhận việc mất hành lý ký gửi hoặc hành lý ký gửi không được vận chuyển đến sau 21 ngày kể từ ngày hành lý phải được vận chuyển đến theo hợp đồng, hành khách có quyền yêu cầu người vận chuyển thực hiện trách nhiệm theo hợp đồng để bảo vệ quyền lợi của mình theo hợp đồng vận chuyển.
4. Người vận chuyển phải chịu trách nhiệm về thiệt hại xảy ra trong trường hợp hàng hóa bị hư hỏng hoặc bị mất nếu sự việc gây thiệt hại xảy ra trong quá trình vận chuyển bằng đường hàng không. Việc vận chuyển bằng đường hàng không bao gồm cả quãng thời gian hàng hóa nằm trong sự quản lý của người vận chuyển.
5. Quá trình vận chuyển bằng đường hàng không không bao gồm quá trình vận chuyển bằng đường bộ, đường biển hoặc đường thủy nội địa được thực hiện ngoài cảng hàng không. Trường hợp việc vận chuyển bằng đường bộ, đường biển hoặc đường thủy nội địa nhằm mục đích bốc xếp, giao hàng hoặc chuyển tải hàng hóa để thực hiện hợp đồng vận chuyển bằng đường hàng không thì được coi là trong quá trình vận chuyển bằng đường hàng không, trừ trường hợp lỗi do người vận chuyển bằng đường bộ, đường biển hoặc đường thủy nội địa. Trường hợp người vận chuyển thay thế một phần hoặc toàn bộ việc vận chuyển bằng đường hàng không theo thỏa thuận dự định giữa các bên bằng phương thức vận chuyển khác mà không có sự đồng ý của người gửi hàng thì việc vận chuyển bằng phương thức khác này được coi là nằm trong thời gian vận chuyển bằng đường hàng không.
6. Trường hợp hàng hóa, hành lý đã được bồi thường nhưng sau đó hàng hóa, hành lý vẫn tiếp tục vận chuyển đến địa điểm đến thì người nhận hàng, hành khách vẫn có quyền nhận số hàng hóa, hành lý đó và hoàn trả số tiền bồi thường đã nhận cho người vận chuyển.
7. Người vận chuyển phải hoàn trả cho người gửi hàng, hành khách giá dịch vụ vận chuyển đối với số hàng hóa, hành lý ký gửi bị thiệt hại.
8. Mức bồi thường thiệt hại và mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển theo quy định của Chính phủ.
9. Người vận chuyển chỉ được hưởng mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của hành khách trong trường hợp người vận chuyển chứng minh được rằng thiệt hại xảy ra không phải do lỗi của mình hoặc hoàn toàn do lỗi của bên thứ ba.
10. Người vận chuyển không được hưởng mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại khác trong trường hợp người vận chuyển, nhân viên hoặc đại lý của người vận chuyển thực hiện hành vi gây thiệt hại một cách cố ý hoặc do sự cẩu thả nhưng với nhận thức rằng thiệt hại có thể xảy ra. Trường hợp hành vi đó do nhân viên hoặc đại lý thực hiện thì phải chứng minh được nhân viên hoặc đại lý đó đã hành động khi thực hiện nhiệm vụ của mình.
Nguyên văn theo Công báo. Bấm vào một khoản để sao chép trích dẫn khoản đó.
‹ Về toàn văn Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2025 số 130/2025/QH15 (107 điều, mục lục, lược đồ)