Điều 43 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 15/2026/QH16: Thụ lý hồ sơ và cử người giải quyết bồi thường
Điều 43. Thụ lý hồ sơ và cử người giải quyết bồi thường
1. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ theo quy định, cơ quan giải quyết bồi thường phải thụ lý hồ sơ, ghi vào sổ thụ lý, cử người giải quyết bồi thường và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Thời hạn giải quyết bồi thường được tính từ ngày thụ lý hồ sơ.
2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ mà có một trong các căn cứ sau đây thì cơ quan giải quyết bồi thường thông báo bằng văn bản về việc không thụ lý cho người yêu cầu bồi thường và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước:
a) Người yêu cầu bồi thường rút yêu cầu bồi thường;
b) Thời hiệu yêu cầu bồi thường đã hết;
c) Yêu cầu bồi thường không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định tại Luật này;
d) Người yêu cầu bồi thường không phải là người có quyền yêu cầu bồi thường theo quy định tại Điều 5 của Luật này;
đ) Yêu cầu bồi thường đã được thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 52 của Luật này và đã được Tòa án có thẩm quyền thụ lý theo thủ tục tố tụng dân sự;
e) Yêu cầu bồi thường đã được Tòa án có thẩm quyền chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 55 của Luật này;
g) Yêu cầu bồi thường đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
3. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn bổ sung hồ sơ theo quy định mà người yêu cầu bồi thường không bổ sung hoặc kể từ ngày cơ quan giải quyết bồi thường nhận được văn bản của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thông báo không có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường thì cơ quan giải quyết bồi thường thông báo bằng văn bản về việc không thụ lý cho người yêu cầu bồi thường và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước.
4. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu bồi thường và có căn cứ xác định yêu cầu bồi thường thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nước khác thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ chuyển hồ sơ yêu cầu bồi thường đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường.
5. Người giải quyết bồi thường là người có kinh nghiệm về chuyên môn, nghiệp vụ trong ngành, lĩnh vực phát sinh yêu cầu bồi thường; không được là người có quyền và lợi ích liên quan đến vụ việc hoặc là người thân thích theo quy định của Bộ luật Dân sự của người thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc của người bị thiệt hại.
6. Trường hợp đã thụ lý hồ sơ mà cơ quan giải quyết bồi thường xác định có một trong các căn cứ quy định tại điểm b, c, d, đ, e, g khoản 2 và khoản 4 Điều này thì cơ quan giải quyết bồi thường dừng việc giải quyết, xóa tên vụ việc trong sổ thụ lý và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày dừng việc giải quyết và xóa tên vụ việc trong sổ thụ lý. Trường hợp yêu cầu bồi thường không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì cơ quan đã thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường chuyển hồ sơ yêu cầu bồi thường theo quy định tại khoản 4 Điều này.
7. Trường hợp người bị thiệt hại chỉ yêu cầu phục hồi danh dự thì không ra quyết định giải quyết bồi thường theo quy định tại Mục này. Việc phục hồi danh dự được thực hiện theo quy định tại Mục 3 Chương này.
Nguyên văn theo Công báo. Bấm vào một khoản để sao chép trích dẫn khoản đó.