Điều 54 Luật Thi hành án hình sự số 127/2025/QH15: Thủ tục giải quyết trường hợp phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết
Chương II THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ › Mục 2 CHẾ ĐỘ ĂN, MẶC, Ở, SINH HOẠT, CHĂM SÓC Y TẾ ĐỐI VỚI PHẠM NHÂN
Điều 54. Thủ tục giải quyết trường hợp phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết
1. Khi phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết tại trại giam, trại tạm giam, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm báo ngay cho cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân khu vực, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát quân sự khu vực nơi có phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết để xác định nguyên nhân. Trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký khai tử tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trại giam, trại tạm giam đóng và thông báo cho gia đình hoặc đại diện của người chết trước khi làm thủ tục mai táng. Trường hợp phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết ở cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó gửi giấy báo tử cho trại giam, trại tạm giam. Trường hợp phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ là người nước ngoài chết, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam phải báo ngay cho cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi có phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ trong trại giam, trại tạm giam chết để xác định nguyên nhân; đồng thời báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an hoặc cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao để thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người đó có quốc tịch. Sau khi được cơ quan có thẩm quyền cho phép, trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm tổ chức mai táng. Đối với trường hợp không xác định được quốc tịch của người chết thì giải quyết như đối với phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ là người Việt Nam chết.
2. Khi cơ quan có thẩm quyền cho phép làm các thủ tục mai táng người chết thì trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm thông báo về việc mai táng cho gia đình hoặc người đại diện của người chết. Trường hợp gia đình của người chết có đơn đề nghị thì bàn giao tử thi đó cho họ, trừ trường hợp có căn cứ cho rằng việc đó ảnh hưởng đến an ninh trật tự và vệ sinh môi trường. Sau thời hạn 48 giờ kể từ khi thông báo mà họ không nhận thì trại giam, trại tạm giam tổ chức mai táng theo quy định của pháp luật và thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ việc chấp hành án phạt tù và gửi cho gia đình của người chết, trại giam, trại tạm giam nơi phạm nhân chết, Viện kiểm sát có thẩm quyền. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trại giam, trại tạm giam đóng có phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết có trách nhiệm phối hợp với trại giam, trại tạm giam trong việc mai táng và quản lý mộ của phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ. Kinh phí cho việc mai táng được Nhà nước cấp. Trường hợp phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ là người nước ngoài chết, trong thời hạn 48 giờ kể từ khi thông báo về phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết, nếu cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người đó có quốc tịch không đề nghị nhận tử thi thì trại giam, trại tạm giam tổ chức mai táng.
3. Trường hợp gia đình hoặc đại diện của người chết có đơn đề nghị được nhận tử thi, tro cốt hoặc hài cốt của người chết và tự chịu chi phí thì trại giam, trại tạm giam có thể xem xét, giải quyết, trừ trường hợp có căn cứ cho rằng việc đó ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và vệ sinh môi trường. Việc nhận hài cốt chỉ được giải quyết sau thời hạn 03 năm kể từ ngày mai táng. Trường hợp phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ là người nước ngoài thì việc nhận tử thi hoặc hài cốt phải được cơ quan quản lý thi hành án hình sự xem xét, quyết định.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Nguyên văn theo Công báo. Bấm vào một khoản để sao chép trích dẫn khoản đó.
‹ Về toàn văn Luật Thi hành án hình sự 2025 số 127/2025/QH15 (180 điều, mục lục, lược đồ)