Điều 16 Nghị định số 171/2026/NĐ-CP: Trình tự, thủ tục tiếp nhận đơn đề nghị được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài
Chương III CHUYỂN GIAO NGƯỜI ĐANG CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ TẠI VIỆT NAM CHO NƯỚC NGOÀI
Điều 16. Trình tự, thủ tục tiếp nhận đơn đề nghị được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài
1. Trại giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng có trách nhiệm phổ biến, giải thích cho người đang chấp hành án phạt tù là người nước ngoài về quyền được làm đơn đề nghị được chuyển giao theo quy định của điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà Việt Nam là thành viên hoặc pháp luật Việt Nam ngay khi người đang chấp hành án phạt tù đến chấp hành án và cung cấp mẫu đơn, tạo điều kiện cho người đang chấp hành án phạt tù viết đơn hoặc liên hệ với người đại diện hợp pháp, cơ quan đại diện ngoại giao của nước họ để hỗ trợ viết đơn nếu người đang chấp hành án phạt tù có nguyện vọng.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù, trại giam thuộc Bộ Công an phải có văn bản báo cáo kèm theo đơn và các tài liệu quy định tại các điểm b, c, d, g khoản 2 Điều 35 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, các khoản 2, 3, 4 Điều 15 của Nghị định này, tài liệu xác định việc thực hiện trách nhiệm dân sự trong bản án, hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, tịch thu tài sản và trách nhiệm pháp lý khác theo quy định của pháp luật, kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành án (nếu có) gửi Bộ Công an; trại giam thuộc Bộ Quốc phòng phải có văn bản báo cáo kèm theo đơn và các tài liệu quy định tại các điểm b, c, d, g khoản 2 Điều 35 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, các khoản 2, 3, 4 Điều 15 của Nghị định này, tài liệu xác định việc thực hiện trách nhiệm dân sự trong bản án, hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, tịch thu tài sản và trách nhiệm pháp lý khác theo quy định của pháp luật, kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành án (nếu có) gửi về Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng để có văn bản chuyển đơn đến Bộ Công an. Trại giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng có trách nhiệm thông tin cho người đang chấp hành án phạt tù về quyền, hậu quả pháp lý và thời điểm rút lại đơn đề nghị được chuyển giao theo quy định tại Điều 7 và khoản 5 Điều 43 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
3. Trường hợp Bộ Công an nhận được đơn của người đang chấp hành án phạt tù từ cơ quan đại diện của nước nhận tại Việt Nam thì Bộ Công an có trách nhiệm vào sổ theo dõi hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và tiến hành rà soát hồ sơ người đang chấp hành án phạt tù để xem xét việc lập yêu cầu chuyển giao theo quy định tại Điều 37 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
4. Trường hợp người đại diện hợp pháp hoặc người thân thích của người đang chấp hành án phạt tù gửi đơn đến Bộ Công an, Bộ Công an có trách nhiệm kiểm tra giấy tờ chứng minh tư cách đại diện hoặc quan hệ thân thích. Nếu hợp lệ, Bộ Công an thông báo cho trại giam nơi người đang chấp hành án phạt tù đang chấp hành án để lấy ý kiến xác nhận nguyện vọng của người đang chấp hành án phạt tù trước khi tiến hành các thủ tục tiếp theo.
5. Trường hợp cơ quan đại diện Việt Nam ở nước nhận tiếp nhận đơn đề nghị được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù từ cơ quan có thẩm quyền của nước nhận thì cơ quan đại diện Việt Nam chuyển đơn đến Bộ Công an trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị được chuyển giao. Đối với trường hợp người làm đơn thuộc diện quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì cơ quan đại diện Việt Nam ở nước nhận phải chuyển đơn đến Bộ Công an trong thời hạn 05 ngày làm việc. Việc chuyển đơn có thể được thực hiện trên môi trường điện tử (hộp thư điện tử).
6. Sau khi nhận được đơn đề nghị được chuyển giao, Bộ Công an tiến hành rà soát các điều kiện chuyển giao theo quy định tại Điều 32 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù chưa đủ điều kiện chuyển giao, Bộ Công an có văn bản thông báo và nêu rõ lý do cho người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp, người thân thích của người đó hoặc cơ quan đại diện của nước nhận tại Việt Nam.
Nguyên văn theo Công báo. Bấm vào một khoản để sao chép trích dẫn khoản đó.