Điều 19 Nghị định số 355/2025/NĐ-CP: Xử lý học sinh vi phạm
Chương II THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG › Mục 4 KHEN THƯỞNG, XỬ LÝ HỌC SINH VI PHẠM
Điều 19. Xử lý học sinh vi phạm
1. Nguyên tắc xử lý
a) Học sinh vi phạm đều bị xem xét, xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật. Nghiêm cấm làm sai lệch hồ sơ, tài liệu, lợi dụng việc xử lý vi phạm để trù dập học sinh. Trường hợp học sinh vi phạm lần đầu, mức độ vi phạm, hậu quả không đáng kể và có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì có thể xem xét, không xử lý kỷ luật;
b) Mỗi hành vi vi phạm chỉ bị xem xét, xử lý một lần bằng một hình thức kỷ luật. Trong cùng một vụ việc có nhiều học sinh vi phạm thì mỗi học sinh đều bị xem xét, xử lý kỷ luật. Trường hợp học sinh có nhiều hành vi vi phạm trong một vụ việc thì xem xét áp dụng chung bằng một hình thức kỷ luật.
2. Xử lý kỷ luật
a) Xử lý kỷ luật bằng hình thức Nhắc nhở trước tập thể học sinh trong lớp, tổ, đội khi thuộc một trong các trường hợp sau: Học sinh không tự giác học văn hóa, không phục tùng sự điều hành của giáo viên trong giờ học, gian lận trong học tập, gây mất trật tự trong lớp học, cản trở hoặc làm ảnh hưởng đến việc học tập của học sinh khác; Học sinh không tự giác học nghề, trốn tránh lao động, lao động không hiệu quả, cố ý làm hư hỏng sản phẩm, dụng cụ, làm thất thoát dụng cụ, nguyên vật liệu, không chấp hành sự hướng dẫn của cán bộ dạy nghề, cán bộ làm công tác tổ chức lao động, sản xuất, không chấp hành quy định về vệ sinh, an toàn lao động, cản trở hoặc làm ảnh hưởng đến việc học nghề, lao động của học sinh khác;
b) Xử lý kỷ luật bằng hình thức Phê bình trước tập thể học sinh trường giáo dưỡng khi thuộc một trong các trường hợp sau: Học sinh có hành vi quy định thuộc một trong các hành vi quy định tại điểm a khoản này nhưng có tình tiết tăng nặng; Học sinh có những hành vi vi phạm về hiệu lệnh, thời gian, lễ tiết, tác phong và các hành vi bị nghiêm cấm tại Nội quy trường giáo dưỡng nhưng vi phạm lần đầu và có tình tiết giảm nhẹ;
c) Xử lý kỷ luật bằng hình thức Tạm dừng một số hoạt động giải trí trong thời hạn không quá 03 ngày khi thuộc một trong các trường hợp sau: Học sinh vi phạm quy định về hiệu lệnh, thời gian, lễ tiết, tác phong và các hành vi bị nghiêm cấm tại Nội quy trường giáo dưỡng; Học sinh đã bị xử lý kỷ luật mà lại tiếp tục vi phạm; Học sinh cùng lúc có từ 02 hành vi vi phạm trở lên; Trường hợp học sinh vi phạm Nội quy có dấu hiệu của tội phạm thì trường giáo dưỡng phối hợp với cơ quan chức năng giải quyết theo quy định của pháp luật, tùy theo tình hình thực tế có thể xử lý kỷ luật hoặc không xử lý kỷ luật theo quy định tại Điều này.
3. Hiệu trưởng trường giáo dưỡng thành lập Hội đồng xét kỷ luật học sinh. Thành phần và nguyên tắc hoạt động của Hội đồng thực hiện theo quy định tại điểm d khoản 9 Điều 16 Nghị định này. Đối với trường giáo dưỡng có từ 02 phân hiệu trở lên thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng thành lập tại mỗi phân hiệu 01 Tiểu ban xét, đề nghị kỷ luật học sinh. Căn cứ kết quả họp Hội đồng và đề xuất của Đội nghiệp vụ có liên quan, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng xem xét, quyết định kỷ luật học sinh.
4. Trình tự, thủ tục kỷ luật học sinh Khi học sinh vi phạm kỷ luật học tập, lao động hoặc Nội quy trường giáo dưỡng, Giáo viên chủ nhiệm hoặc cán bộ phát hiện vi phạm của học sinh phải lập biên bản, lấy lời khai, lập biên bản thu giữ tang vật (nếu có) và yêu cầu học sinh viết tường trình, kiểm điểm. Nếu học sinh không viết được vì lý do khách quan thì nhờ học sinh khác viết hộ, sau khi nghe đọc lại, đồng ý với nội dung đã viết thì ký tên hoặc điểm chỉ vào văn bản, có xác nhận của Giáo viên chủ nhiệm. Trường hợp học sinh không ký biên bản hoặc không viết tường trình, kiểm điểm thì cán bộ đã lập biên bản lập thêm biên bản về việc học sinh không ký biên bản, không viết tường trình, kiểm điểm có chữ ký xác nhận của 02 học sinh khác chứng kiến việc lập biên bản. Giáo viên chủ nhiệm tổ chức họp đội (tổ) học sinh để học sinh vi phạm tự kiểm điểm, tập thể đội tham gia ý kiến đề xuất hình thức kỷ luật. Căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm của học sinh, biên bản họp đội (tổ) học sinh, Giáo viên chủ nhiệm đề xuất hình thức kỷ luật, tập hợp tài liệu chuyển đến Tiểu ban xét kỷ luật học sinh (đối với trường giáo dưỡng có từ 02 phân hiệu) hoặc chuyển đến Đội nghiệp vụ có liên quan báo cáo, đề xuất Hội đồng xét kỷ luật học sinh. Hội đồng xét kỷ luật học sinh họp, biểu quyết bằng hình thức giơ tay. Nếu có ít nhất hai phần ba thành viên Hội đồng nhất trí thì thông qua. Căn cứ kết quả họp Hội đồng xét kỷ luật, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng quyết định kỷ luật học sinh.
5. Thi hành quyết định kỷ luật
a) Đối với hình thức nhắc nhở: Sau khi quyết định kỷ luật học sinh có hiệu lực, Giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm thi hành bằng cách nhắc nhở học sinh vi phạm trước tập thể đội (tổ) học sinh;
b) Đối với hình thức phê bình: Sau khi quyết định kỷ luật học sinh có hiệu lực, Đội trưởng Đội nghiệp vụ có trách nhiệm thi hành bằng cách phê bình học sinh vi phạm trước tập thể học sinh toàn trường hoặc qua hệ thống phát thanh nội bộ;
c) Đối với hình thức tạm dừng một số hoạt động giải trí trong thời gian không quá 03 ngày: Sau khi quyết định kỷ luật có hiệu lực, Giáo viên chủ nhiệm hoặc cán bộ trường giáo dưỡng được giao nhiệm vụ có trách nhiệm quản lý, giám sát không để học sinh có mặt ở những địa điểm vui chơi, giải trí, văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao theo thời gian đã nêu trong quyết định; Học sinh bị xử lý kỷ luật phải có thời gian theo dõi, thử thách để xem xét, công nhận rèn luyện tiến bộ. Trong thời gian theo dõi, thử thách, học sinh tự nhận thức được hành vi vi phạm, có ý thức điều chỉnh hành vi, tự giác tu dưỡng, học tập, rèn luyện trước sự chứng kiến của tập thể đội (tổ) học sinh. Đối với hình thức nhắc nhở thì thời gian theo dõi, thử thách là 07 ngày, đối với hình thức phê bình thì thời gian thử thách là 14 ngày, đối với hình thức tạm dừng một số hoạt động giải trí trong thời gian không quá 03 ngày thì thử thách là 21 ngày. Nếu hết thời hạn thử thách tương ứng với từng mức thời gian thử thách mà học sinh vẫn chưa thực sự tiến bộ thì tiếp tục kéo dài thời gian cho đến khi học sinh được công nhận tiến bộ. Thời gian thử thách tính từ ngày học sinh chấp hành quyết định kỷ luật. Trường hợp học sinh lập công thì được xem xét, công nhận rèn luyện tiến bộ ngay khi có văn bản xác nhận lập công. Quyết định công nhận học sinh rèn luyện tiến bộ là căn cứ để xem xét, đánh giá xếp loại thi đua đối với học sinh sau thời gian bị kỷ luật; Trước khi hết hạn thử thách 02 ngày, Giáo viên chủ nhiệm tổ chức sinh hoạt đội (tổ) học sinh để xét, đề nghị công nhận rèn luyện tiến bộ cho học sinh. Nếu được ít nhất hai phần ba học sinh dự họp biểu quyết nhất trí trở lên thì Giáo viên chủ nhiệm hoàn thiện hồ sơ chuyển đến Đội nghiệp vụ có liên quan để đề nghị Hiệu trưởng trường giáo dưỡng xem xét, quyết định công nhận học sinh rèn luyện tiến bộ.
6. Những tình tiết giảm nhẹ hình thức kỷ luật
a) Chủ động báo cáo hành vi vi phạm của mình với cán bộ, giáo viên trường giáo dưỡng, tự giác nhận khuyết điểm trước khi bị phát hiện;
b) Chủ động báo cáo, cung cấp thông tin, phản ánh đầy đủ, trung thực về những người cùng vi phạm;
c) Chủ động chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phục hậu quả vi phạm và tích cực tham gia ngăn chặn hành vi vi phạm;
d) Vi phạm do nguyên nhân khách quan hoặc bị ép buộc;
đ) Tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi vi phạm, báo cáo kịp thời với cán bộ, giáo viên trường giáo dưỡng.
7. Những tình tiết tăng nặng hình thức kỷ luật
a) Không tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm của bản thân;
b) Không viết bản tường trình, bản kiểm điểm;
c) Có hành vi nhằm trả thù người tố cáo hành vi vi phạm hoặc người cung cấp tài liệu, chứng cứ vi phạm;
d) Cung cấp thông tin, báo cáo sai sự thật, có hành vi tiêu hủy chứng cứ, bao che cho người cùng vi phạm;
đ) Đối phó, cản trở, gây khó khăn cho quá trình xác minh, thu thập chứng cứ;
e) Vi phạm trong thời gian thử thách để được công nhận tiến bộ;
g) Là người tổ chức, chủ mưu, khởi xướng thực hiện hành vi vi phạm hoặc ép buộc, tổ chức lôi kéo người khác cùng vi phạm.
Nguyên văn theo Công báo. Bấm vào một khoản để sao chép trích dẫn khoản đó.