ThuVienPhapLy.comTra cứu văn bản pháp luật

Điều 21 Nghị định số 364/2026/NĐ-CP: Ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với tổ chức hành nghề luật sư

Chương III GIẢI QUYẾT CÔNG VIỆC CÓ TÍNH CHẤT PHÁP LÝ TẠI KHU VỰC NHÀ NƯỚC

Tình trạng văn bản: Chưa xác định. Đã có hiệu lực từ ngày 01/10/2026. Kho chưa ghi nhận văn bản nào tuyên bố hết hiệu lực toàn bộ văn bản này, nhưng chưa đối chiếu đủ để khẳng định còn hiệu lực.
Xem trong toàn văn

Điều 21. Ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với tổ chức hành nghề luật sư

1. Cơ quan thực hiện thí điểm có thể lựa chọn và ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với tổ chức hành nghề luật sư để cùng luật sư công giải quyết vụ, việc có tính chất pháp lý phức tạp khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Vụ, việc có tính chất phức tạp, đòi hỏi chuyên môn sâu mà đội ngũ luật sư công chưa đáp ứng được;

b) Số lượng vụ, việc phức tạp cần nhiều luật sư mà vượt quá khả năng tham gia của đội ngũ luật sư công;

c) Vụ, việc có liên quan đến các dự án quan trọng quốc gia hoặc dự án có tác động lớn đến kinh tế, xã hội;

d) Vụ, việc có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền tài phán quốc tế;

đ) Các vụ, việc khác theo quyết định của cơ quan chủ trì giải quyết vụ, việc.

2. Việc lựa chọn tổ chức hành nghề luật sư phải bảo đảm công khai, minh bạch, phù hợp với tính chất vụ, việc và được thực hiện theo quy trình lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt áp dụng tương tự việc lựa chọn luật sư, tổ chức hành nghề luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước Việt Nam, cơ quan nhà nước tại cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, các biện pháp khác ảnh hưởng đến lợi ích thương mại của Việt Nam tại nước ngoài, cơ quan tài phán, cơ quan giải quyết tranh chấp trong nước, nước ngoài hoặc quốc tế theo quy định của pháp luật đấu thầu.

3. Khi giải quyết vụ, việc, luật sư công có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với luật sư của tổ chức hành nghề luật sư nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước. Trong quá trình phối hợp, luật sư công và luật sư của tổ chức hành nghề luật sư có trách nhiệm sau đây:

a) Trao đổi thông tin, tài liệu; thống nhất xây dựng và tổ chức thực hiện phương án giải quyết vụ, việc;

b) Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật thông tin, bí mật nghề nghiệp và phòng ngừa xung đột lợi ích.

4. Trường hợp có ý kiến chuyên môn khác nhau, luật sư công và luật sư của tổ chức hành nghề luật sư có quyền bảo lưu ý kiến và báo cáo người đứng đầu cơ quan sử dụng luật sư công xem xét, quyết định. Người đứng đầu cơ quan sử dụng luật sư công chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Luật sư công và luật sư của tổ chức hành nghề luật sư chịu trách nhiệm về ý kiến chuyên môn đã tư vấn và phần công việc do mình thực hiện. Ý kiến chuyên môn của luật sư công, luật sư của tổ chức hành nghề luật sư và quyết định của người đứng đầu cơ quan sử dụng luật sư công phải được thể hiện bằng văn bản và lưu trữ vào hồ sơ vụ, việc.

5. Cơ quan, tổ chức ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với tổ chức hành nghề luật sư có trách nhiệm chủ động bố trí kinh phí trong dự toán hằng năm; trường hợp phát sinh vụ, việc đột xuất, phức tạp hoặc kinh phí đã bố trí không đủ đáp ứng thì báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, bổ sung theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. Kinh phí chi trả cho tổ chức hành nghề luật sư bao gồm thù lao luật sư và các chi phí hợp lý, cần thiết để giải quyết vụ, việc. Mức chi trả được xác định trong hợp đồng dịch vụ pháp lý.

Nguyên văn theo Công báo. Bấm vào một khoản để sao chép trích dẫn khoản đó.

‹ Về toàn văn Nghị định 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công (32 điều, mục lục, lược đồ)