Điều 3 Nghị định số 365/2026/NĐ-CP: Quyền kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo
Chương I QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 3. Quyền kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo
1. Thương nhân Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, nếu đáp ứng đủ điều kiện quy định tại Điều 4 Nghị định này và được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo (sau đây viết tắt là Giấy chứng nhận), có quyền được kinh doanh xuất khẩu gạo theo quy định tại Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Thương nhân là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp Giấy chứng nhận và thực hiện hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo theo quy định tại Nghị định này; theo các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam và cam kết của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
3. Chỉ thương nhân được cấp Giấy chứng nhận mới được nhận ủy thác xuất khẩu gạo.
4. Thương nhân xuất khẩu gạo hữu cơ, gạo đồ, gạo bổ sung vi chất dinh dưỡng không phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh quy định tại khoản 1 Điều này, được xuất khẩu các loại gạo này không phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo, không phải thực hiện dự trữ lưu thông quy định tại Điều 12 và không thực hiện trách nhiệm báo cáo theo quy định tại Điều 25 Nghị định này.
5. Thương nhân kinh doanh nhập khẩu gạo thông báo kế hoạch nhập khẩu gạo với Bộ Công Thương.
Nguyên văn theo Công báo. Bấm vào một khoản để sao chép trích dẫn khoản đó.
‹ Về toàn văn Nghị định 365/2026/NĐ-CP về kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo (28 điều, mục lục, lược đồ)