Điều 9 Nghị quyết số 31/2026/NQ-CP: Xác định người được quyền thuê nhà theo phương thức chào giá cạnh tranh
Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ › Mục 1 QUẢN LÝ, KHAI THÁC NHÀ, ĐẤT DÔI DƯ GIAO CHO TỔ CHỨC QUẢN LÝ, KINH DOANH NHÀ
Điều 9. Xác định người được quyền thuê nhà theo phương thức chào giá cạnh tranh
1. Việc cho thuê nhà theo phương thức chào giá cạnh tranh áp dụng đối với các trường hợp không thuộc phạm vi quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị quyết này. Trường hợp người thuộc đối tượng được ưu tiên thuê nhà đăng ký thuê nhà theo phương thức chào giá cạnh tranh thì không áp dụng quyền ưu tiên và không áp dụng miễn, giảm tiền thuê nhà.
2. Người đăng ký thuê nhà nộp Phiếu đăng ký thuê nhà, tiền đặt trước trong thời hạn đã được thông báo. Phiếu đăng ký thuê nhà theo Mẫu số 03 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết này. Những người không được đăng ký thuê nhà thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 8 Điều 29 Nghị định số 108/2024/NĐ-CP. Khi nộp Phiếu đăng ký thuê nhà, người đăng ký thuê nhà bỏ Phiếu đăng ký thuê nhà vào hòm kín có niêm phong của tổ chức quản lý, kinh doanh nhà. Phiếu đăng ký thuê nhà hợp lệ là Phiếu đăng ký thuê nhà do tổ chức quản lý, kinh doanh nhà phát hành, được đóng dấu treo của tổ chức quản lý, kinh doanh nhà, có đầy đủ các thông tin theo yêu cầu và có mức giá đề xuất không thấp hơn giá sàn cho thuê đã được thông báo. Tiền đặt trước được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị quyết này.
3. Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn thông báo, tổ chức quản lý, kinh doanh nhà tổ chức thực hiện xác định người được quyền thuê nhà theo thời gian đã thông báo. Thành phần tham gia xác định người được quyền thuê nhà gồm: đại diện của tổ chức quản lý, kinh doanh nhà; người đăng ký thuê nhà; thành phần khác (nếu cần) do Thủ trưởng tổ chức quản lý, kinh doanh nhà quyết định. Đại diện của tổ chức quản lý, kinh doanh nhà mở hòm phiếu, công bố danh sách người đã nộp Phiếu đăng ký thuê nhà có mặt và không có mặt; số Phiếu đăng ký thuê nhà hợp lệ, Phiếu đăng ký thuê nhà không hợp lệ của những người đăng ký thuê nhà có mặt; giá đề xuất tại Phiếu đăng ký thuê nhà hợp lệ của người đăng ký thuê nhà có mặt. Trường hợp người đăng ký thuê nhà đã nộp Phiếu đăng ký thuê nhà nhưng không có mặt (trừ trường hợp không có mặt vì lý do bất khả kháng) thì Phiếu đăng ký thuê nhà bị loại khỏi việc xác định người được quyền thuê nhà; người đăng ký thuê nhà không được nhận lại số tiền đặt trước và không được tổ chức quản lý, kinh doanh nhà đó cho đăng ký thuê nhà của các lần tiếp theo. Trường hợp người đăng ký thuê nhà đã nộp Phiếu đăng ký thuê nhà nhưng không có mặt vì lý do bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, tai nạn đột xuất) thì Phiếu đăng ký thuê nhà bị loại khỏi việc xác định người được quyền thuê nhà; người đăng ký thuê nhà được nhận lại số tiền đặt trước. Trường hợp người đăng ký thuê nhà có mặt nhưng Phiếu đăng ký thuê nhà đã nộp không hợp lệ thì Phiếu đăng ký thuê nhà bị loại khỏi việc xác định người được quyền thuê nhà; người đăng ký thuê nhà không được nhận lại số tiền đặt trước.
4. Việc xác định người được quyền thuê nhà được thực hiện đối với người đăng ký thuê nhà hợp lệ và thực hiện theo quy định tại các khoản 5, 6, và 7 Điều này.
5. Trường hợp chỉ có một người đăng ký thuê nhà hợp lệ thì người đó là người được quyền thuê nhà.
6. Trường hợp có nhiều người đăng ký thuê nhà hợp lệ thì xử lý như sau:
a) Trường hợp chỉ có một người đề xuất mức giá cao nhất tại Phiếu đăng ký thuê nhà thì người đó là người được quyền thuê nhà.
b) Trường hợp có nhiều người cùng đề xuất mức giá cao nhất tại Phiếu đăng ký thuê nhà thì tổ chức bốc thăm giữa những người có cùng đề xuất mức giá cao nhất để xác định người được quyền thuê nhà. Mỗi người đăng ký thuê nhà quy định tại điểm này được tổ chức quản lý, kinh doanh nhà phát 01 phiếu hoặc thẻ có số thứ tự để thực hiện bốc thăm.
7. Trường hợp người được quyền thuê nhà quy định tại khoản 6 Điều này từ chối quyền thuê nhà ngay tại buổi xác định thì xử lý như sau:
a) Nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 6 Điều này thì người đề xuất mức giá thấp hơn liền kề tại Phiếu đăng ký thuê nhà là người được quyền thuê nhà. Trường hợp có nhiều người cùng đề xuất mức giá thấp hơn liền kề thì thực hiện tương tự quy định tại điểm b khoản 6 Điều này.
b) Nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 6 Điều này thì tổ chức bốc thăm giữa những người cùng đề xuất mức giá cao nhất còn lại (nếu số người còn lại từ 02 người trở lên) để xác định người được quyền thuê nhà; nếu chỉ còn lại 01 người thì người đó là người được quyền thuê nhà. Trường hợp tất cả người được quyền thuê nhà quy định tại điểm này từ chối quyền thuê nhà thì thực hiện tương tự quy định tại điểm a khoản này.
c) Việc xác định người được quyền thuê nhà theo quy định tại điểm a, điểm b khoản này được thực hiện đến khi xác định được người được quyền thuê nhà. Trường hợp tất cả người được quyền thuê nhà đều từ chối quyền thuê nhà tại buổi xác định người được quyền thuê nhà thì xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Nghị quyết này. Người từ chối quyền thuê nhà không được nhận lại số tiền đặt trước và không được tổ chức quản lý, kinh doanh nhà đó cho đăng ký thuê nhà của các lần tiếp theo.
8. Sau khi xác định được người được quyền thuê nhà theo quy định tại các khoản 5, 6 và 7 Điều này:
a) Tổ chức quản lý, kinh doanh nhà có trách nhiệm lập Biên bản xác định người được quyền thuê nhà; tổ chức quản lý, kinh doanh nhà và người được quyền thuê nhà ký Hợp đồng thuê nhà ngay trong ngày. Đơn giá cho thuê nhà là giá thuê nhà do người được quyền thuê nhà đề xuất tại Phiếu đăng ký thuê nhà hợp lệ. Biên bản xác định người được quyền thuê nhà được lập tại buổi xác định người được quyền thuê nhà do tổ chức quản lý, kinh doanh nhà tổ chức. Diễn biến của buổi xác định người được quyền thuê nhà phải được ghi đầy đủ vào biên bản. Biên bản phải có chữ ký của đại diện của tổ chức quản lý, kinh doanh nhà, người ghi biên bản, người được quyền thuê nhà, đại diện của những người đăng ký thuê nhà hợp lệ nhưng không được quyền thuê nhà (nếu có), thành phần khác tham dự buổi xác định người được quyền thuê nhà (nếu có). Biên bản được đóng dấu của tổ chức quản lý, kinh doanh nhà. Hợp đồng thuê nhà được ký giữa tổ chức quản lý, kinh doanh nhà và người được quyền thuê nhà theo quy định tại khoản 2 Điều 18 Nghị định số 108/2024/NĐ-CP, Mẫu số 06 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 108/2024/NĐ-CP và quy định tại Nghị quyết này.
b) Trường hợp người được quyền thuê nhà từ chối ký Biên bản xác định người được quyền thuê nhà, Hợp đồng thuê nhà thì người đó mất quyền thuê nhà, không được nhận lại số tiền đặt trước và không được tổ chức quản lý, kinh doanh nhà đó cho đăng ký thuê nhà của các lần tiếp theo. Trường hợp vẫn còn người đăng ký thuê nhà hợp lệ thì tổ chức quản lý, kinh doanh nhà mời những người này để tiếp tục xác định người được quyền thuê nhà theo quy định tại các khoản 5, 6 và 7 Điều này. Trường hợp tất cả người đăng ký thuê nhà hợp lệ còn lại không tham gia buổi xác định người được quyền thuê nhà thì xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Nghị quyết này.
c) Việc xử lý số tiền đặt trước của người đăng ký thuê nhà hợp lệ nhưng không được quyền thuê nhà được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định số 108/2024/NĐ-CP.
d) Trường hợp người được quyền thuê nhà đã ký Hợp đồng thuê nhà với tổ chức quản lý, kinh doanh nhà theo quy định tại điểm a khoản này, số tiền đặt trước tương ứng với 03 tháng tiền thuê nhà được chuyển thành số tiền đặt cọc để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên thuê nhà, được nhận lại khi thanh lý Hợp đồng thuê nhà sau khi thanh toán các nghĩa vụ chưa thanh toán với Nhà nước, không được nhận lại nếu vi phạm Hợp đồng thuê nhà. Số tiền đặt trước còn lại được trừ vào tiền thuê nhà phải trả.
Nguyên văn theo Công báo. Bấm vào một khoản để sao chép trích dẫn khoản đó.