Điều 22 Thông tư số 10/2026/TT-BTP: Hoàn trả, bồi hoàn kinh phí hỗ trợ, tài trợ
Chương IV KIỂM TRA, GIÁM SÁT, BÁO CÁO TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KINH PHÍ; CÔNG KHAI THÔNG TIN VỀ HỖ TRỢ, TÀI TRỢ; HOÀN TRẢ, BỒI HOÀN KINH PHÍ HỖ TRỢ, TÀI TRỢ
Điều 22. Hoàn trả, bồi hoàn kinh phí hỗ trợ, tài trợ
1. Trừ trường hợp kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy định tại khoản 8 Điều 14 của Thông tư này, kinh phí đã được Quỹ tạm ứng nhưng chủ thể nhận hỗ trợ, tài trợ không sử dụng, sử dụng không hết hoặc kinh phí chưa đủ điều kiện thanh, quyết toán khi kết thúc dự án, nhiệm vụ, hoạt động phải hoàn trả cho Quỹ. Số kinh phí phải hoàn trả được xác định trên cơ sở hồ sơ quyết toán, biên bản nghiệm thu, kết quả xét duyệt quyết toán hoặc kết quả kiểm tra, kiểm toán của cơ quan có thẩm quyền. Chủ thể nhận hỗ trợ, tài trợ có trách nhiệm hoàn trả số kinh phí không sử dụng hoặc sử dụng không hết trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Quỹ. Quá thời hạn này mà chưa hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ, Quỹ ban hành quyết định yêu cầu hoàn trả và thực hiện các biện pháp thu hồi theo hợp đồng hỗ trợ, tài trợ và quy định của pháp luật.
2. Chủ thể nhận hỗ trợ, tài trợ từ Quỹ phải bồi hoàn số tiền được hỗ trợ, tài trợ theo hợp đồng hỗ trợ, tài trợ phù hợp với quy định tại Điều 22 của Nghị định số 289/2025/NĐ-CP.
3. Quỹ ban hành quyết định yêu cầu bồi hoàn số tiền được hỗ trợ, tài trợ, trong đó bao gồm các nội dung:
a) Căn cứ pháp lý xác định trách nhiệm bồi hoàn;
b) Số tiền gốc phải bồi hoàn;
c) Khoản lãi phải nộp theo khoản 2 Điều 22 của Nghị định số 289/2025/NĐ-CP;
d) Khoản phạt hoặc trách nhiệm khác theo thỏa thuận (nếu có);
đ) Thời hạn, phương thức bồi hoàn;
e) Biện pháp xử lý nếu quá thời hạn mà không thực hiện trách nhiệm bồi hoàn.
4. Tiền hoàn trả, bồi hoàn được nộp về tài khoản tương ứng với nguồn kinh phí đã hỗ trợ, tài trợ của Quỹ và xử lý theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật có liên quan.
Nguyên văn theo Công báo. Bấm vào một khoản để sao chép trích dẫn khoản đó.