Điều 12 Thông tư số 64/2026/TT-BGDĐT: Nguyên tắc xác định chế độ làm việc
Chương IV CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN TRUNG HỌC NGHỀ
Điều 12. Nguyên tắc xác định chế độ làm việc
1. Thời gian làm việc của giáo viên trung học nghề, giáo viên trung học nghề giữ chức vụ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục (bao gồm: hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, trưởng phòng và tương đương, phó trưởng phòng và tương đương) và giáo viên trung học nghề làm việc tại các phòng chức năng và các đơn vị, tổ chức khác thuộc cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp được xác định theo số tuần và định mức giờ chuẩn trong một năm học để thực hiện hoạt động nghề nghiệp, không bao gồm thời gian nghỉ hằng năm và bảo đảm không vượt quá thời giờ làm việc tối đa theo quy định.
2. Định mức giờ chuẩn là số giờ chuẩn được quy định mà mỗi giáo viên trung học nghề phải giảng dạy trong một năm học. Giáo viên trung học nghề tham gia giảng dạy đồng thời phần kiến thức chương trình trung học phổ thông và phần chuyên môn nghề trong cùng một năm học thì áp dụng theo định mức giờ chuẩn của phần có khối lượng giảng dạy thực tế nhiều hơn; trường hợp khối lượng giảng dạy bằng nhau thì áp dụng định mức giờ chuẩn của giáo viên dạy phần chuyên môn nghề. Trường hợp giáo viên trung học nghề tham gia giảng dạy nhiều trình độ đào tạo trong cùng một năm học thì áp dụng định mức giờ chuẩn trình độ cao nhất trên cơ sở tính hệ số quy đổi giờ chuẩn giảng dạy các trình độ thấp hơn sang giờ chuẩn giảng dạy trình độ cao nhất.
3. Một giờ chuẩn giảng dạy phần kiến thức chương trình trung học phổ thông được tính bằng một giờ chuẩn giảng dạy lý thuyết, thực hành hoặc tích hợp phần chuyên môn nghề. Một giờ chuẩn giảng dạy trực tuyến hoặc kết hợp trực tiếp với trực tuyến được tính bằng một giờ chuẩn giảng dạy trực tiếp.
4. Giáo viên trung học nghề được quy đổi hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ ra giờ chuẩn để tính vào khối lượng giảng dạy khi được cấp có thẩm quyền giao thực hiện một số nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ ngoài các nhiệm vụ đã được giảm định mức giờ chuẩn (trừ giáo viên trung học nghề quy định tại khoản 3 Điều 14 Thông tư này). Quy đổi ra giờ chuẩn và cộng thêm vào định mức giờ chuẩn trong năm học đối với thời gian giáo viên trung học nghề không sử dụng hết để học tập, bồi dưỡng, thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cập nhật nâng cao kỹ năng thực hành và tiếp cận công nghệ mới; số giờ quy đổi được xác định theo tỷ lệ giữa thời gian không sử dụng hết để thực hiện các nhiệm vụ này với thời gian thực hiện nhiệm vụ giảng dạy.
5. Giáo viên trung học nghề được tính giảm định mức giờ chuẩn khi thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, quản lý hoặc kiêm nhiệm do cấp có thẩm quyền giao hoặc trong một số trường hợp cụ thể theo quy định. Đối với các nhiệm vụ đã được bố trí kinh phí để chi trả thù lao cho giáo viên theo quy định thì không thực hiện giảm định mức giờ chuẩn và không quy đổi thời gian thực hiện nhiệm vụ đó ra giờ chuẩn. Đối với giáo viên trung học nghề được phân công kiêm nhiệm công tác hành chính, công tác khác, định mức giờ chuẩn tính theo tỷ lệ tương ứng giữa thời gian được phân công kiêm nhiệm với thời gian thực hiện nhiệm vụ giảng dạy.
6. Việc phân công, bố trí nhiệm vụ cho giáo viên trung học nghề phải đảm bảo:
a) Tuân thủ quy định của pháp luật về lao động về thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi;
b) Phù hợp với định mức giờ chuẩn, thời gian tham gia đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cập nhật nâng cao kỹ năng thực hành, tiếp cận công nghệ mới;
c) Công bằng, công khai, minh bạch trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp để thống nhất thực hiện. Mục II THỜI GIAN LÀM VIỆC, ĐỊNH MỨC GIỜ CHUẨN VÀ THỜI GIAN NGHỈ HẰNG NĂM
Nguyên văn theo Công báo. Bấm vào một khoản để sao chép trích dẫn khoản đó.