ThuVienPhapLy.comTra cứu văn bản pháp luật

Điều 11 Thông tư liên tịch số 11/2026/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC: Điều kiện xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án

Chương III MIỄN, GIẢM NGHĨA VỤ THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI KHOẢN THU NỘP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Tình trạng văn bản: Chưa có hiệu lực. Văn bản ghi có hiệu lực từ ngày 01/11/2026.
Xem trong toàn văn

Điều 11. Điều kiện xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án

1. Điều kiện xét miễn nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 42 của Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15.

2. Điều kiện xét giảm một phần nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 42 của Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15. Trường hợp người đã được giảm một phần hình phạt tiền mà lại phạm tội mới thì chỉ xét giảm tiếp khi đã thi hành được một phần hình phạt tiền chung theo quy định của Bộ luật Hình sự về giảm mức hình phạt tiền đã tuyên.

3. Người phải thi hành án lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài quy định tại khoản 3 Điều 42 của Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 được xác định theo một trong các trường hợp sau đây:

a) Người phải thi hành án là cá nhân bị giảm sút hoặc mất thu nhập, mất toàn bộ hoặc phần lớn tài sản do tai nạn, ốm đau, thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn hoặc tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng khác hoặc trường hợp kết quả xác minh cho thấy người phải thi hành án không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 01 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng nơi người đó cư trú mà dẫn đến không bảo đảm hoặc chỉ bảo đảm được mức sống tối thiểu cho bản thân người đó và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng (nếu có) trong thời gian từ 12 tháng trở lên;

b) Người phải thi hành án là tổ chức mất nguồn thu nhập, mất toàn bộ hoặc phần lớn tài sản do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn hoặc tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng khác mà dẫn đến mất khả năng thanh toán theo quy định của pháp luật về phục hồi, phá sản hoặc không còn khả năng duy trì được hoạt động.

4. Người phải thi hành án lập công lớn quy định tại khoản 3 Điều 42 của Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 là người phải thi hành án đã có hành động giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra, xử lý tội phạm không liên quan đến tội phạm mà người phải thi hành án bị buộc tội (nếu có); cứu được người trong tình thế nguy hiểm đến tính mạng hoặc cứu được tài sản có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên của Nhà nước, của tập thể, của cá nhân trong thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn hoặc tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng khác hoặc có phát minh, sáng chế, sáng kiến có giá trị lớn theo hướng dẫn hoặc xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc được người có thẩm quyền tặng bằng khen. Căn cứ xác định người phải thi hành án lập công lớn quy định tại khoản này chỉ được sử dụng để xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án nếu chưa được sử dụng để xem xét miễn, giảm trách nhiệm khác trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

Nguyên văn theo Công báo. Bấm vào một khoản để sao chép trích dẫn khoản đó.

‹ Về toàn văn Thông tư liên tịch 11/2026/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC quy định về một số thủ tục thi hành án dân sự, miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự (29 điều, mục lục, lược đồ)