ThuVienPhapLy.comTra cứu văn bản pháp luật

Điều 7 Thông tư liên tịch số 12/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP-BNG: Kết thúc việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự

Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ

Tình trạng văn bản: Chưa xác định. Đã có hiệu lực từ ngày 01/07/2026. Kho chưa ghi nhận văn bản nào tuyên bố hết hiệu lực toàn bộ văn bản này, nhưng chưa đối chiếu đủ để khẳng định còn hiệu lực.
Xem trong toàn văn

Điều 7. Kết thúc việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự

1. Cơ quan lập yêu cầu đã nhận được đầy đủ kết quả thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 25 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự, gồm toàn bộ thông tin, tài liệu theo các nội dung yêu cầu tương trợ nêu tại văn bản yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam gửi cho nước ngoài.

2. Cơ quan lập yêu cầu phối hợp với Viện kiểm sát đang thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc, vụ án và các cơ quan khác có liên quan thống nhất xác định về việc không cần thiết phải tiếp tục yêu cầu tương trợ để có văn bản gửi Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự không còn cần thiết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 25 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan lập yêu cầu, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có văn bản thông báo về việc kết thúc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự gửi cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc chuyển cho Bộ Ngoại giao trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định chuyển hồ sơ qua kênh ngoại giao.

3. Hết thời hạn 02 tháng kể từ ngày Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành văn bản chuyển yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, trong trường hợp cần thiết, cơ quan lập yêu cầu có văn bản yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thông báo tiến độ thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự. Việc đề nghị thông báo tiến độ thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự những lần tiếp theo có thể được thực hiện 02 tháng một lần.

4. Trường hợp không nhận được phản hồi của phía nước ngoài, nếu cơ quan lập yêu cầu có thể tiếp tục giải quyết vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án thì cơ quan lập yêu cầu có văn bản phối hợp với Viện kiểm sát đang thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc, vụ án và các cơ quan khác có liên quan thống nhất kết thúc việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 25 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự. Tùy từng trường hợp, việc xác định thời hạn xem xét thống nhất kết thúc việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự được thực hiện như sau:

a) Trường hợp cơ quan lập yêu cầu là Tòa án đề nghị nước ngoài hỗ trợ tống đạt bản án, bản sao bản án hoặc trích lục bản án thì thời hạn xem xét thống nhất kết thúc việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự là 03 tháng kể từ ngày Tòa án nhận được văn bản gần nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo về tiến độ thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự;

b) Trường hợp cơ quan lập yêu cầu là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án hình sự, Cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan khác theo quy định của pháp luật thì thời hạn xem xét thống nhất kết thúc việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự là 06 tháng kể từ ngày các cơ quan lập yêu cầu nhận được văn bản gần nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo về tiến độ thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự. Sau khi nhận được văn bản thống nhất kết thúc việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của Viện kiểm sát đang thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc, vụ án và các cơ quan khác có liên quan theo quy định tại khoản này, cơ quan lập yêu cầu có văn bản gửi Viện kiểm sát nhân dân tối cao để tiếp tục xem xét, thống nhất kết thúc việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự. Trường hợp thống nhất kết thúc yêu cầu, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có văn bản thông báo về việc kết thúc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự gửi cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc chuyển cho Bộ Ngoại giao trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định chuyển hồ sơ qua kênh ngoại giao, đồng thời gửi cho cơ quan lập yêu cầu để biết. Trường hợp chưa thống nhất kết thúc yêu cầu, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có văn bản thông báo cho cơ quan lập yêu cầu.

5. Trường hợp kết thúc việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự theo quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều 25 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự mà cơ quan lập yêu cầu tiếp tục phát sinh nhu cầu đề nghị nước ngoài thực hiện các nội dung tương trợ khác đối với cùng vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án thì cơ quan lập yêu cầu có thể tiếp tục lập yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự nhiều lần. Trình tự, thủ tục thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp các lần tiếp theo được thực hiện như lần thứ nhất.

Nguyên văn theo Công báo. Bấm vào một khoản để sao chép trích dẫn khoản đó.

‹ Về toàn văn Thông tư liên tịch 12/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP-BNG quy định chi tiết một số điều của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự và việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong xử lý yêu cầu của nước ngoài về truy cứu trách nhiệm hình sự (14 điều, mục lục, lược đồ)