Điều 16 Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt số 13/2026/QH16: Kiểm soát người sử dụng cuối cùng và mục đích sử dụng cuối cùng
Chương II BIỆN PHÁP PHÒNG, CHỐNG PHỔ BIẾN VÀ TÀI TRỢ PHỔ BIẾN VŨ KHÍ HỦY DIỆT HÀNG LOẠT › Mục 1 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ, KIỂM SOÁT ĐẶC THÙ
Điều 16. Kiểm soát người sử dụng cuối cùng và mục đích sử dụng cuối cùng
1. Tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động thuộc diện quản lý, kiểm soát có trách nhiệm cung cấp trung thực, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu về người sử dụng cuối cùng, mục đích sử dụng cuối cùng, bên thụ hưởng, tuyến vận chuyển, chuỗi cung ứng và thông tin, tài liệu khác theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
2. Cơ quan có thẩm quyền được yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp, bổ sung, giải trình thông tin, tài liệu về người sử dụng cuối cùng, mục đích sử dụng cuối cùng đối với hoạt động thuộc diện quản lý, kiểm soát hoặc khi có cảnh báo rủi ro. Trước khi yêu cầu cung cấp, bổ sung thông tin, tài liệu, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm rà soát, kế thừa, sử dụng thông tin, tài liệu, dữ liệu đã có trong hồ sơ, cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Chỉ yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp, bổ sung thông tin, tài liệu, dữ liệu khi thông tin hiện có chưa đủ để xác định, đánh giá, xác minh, xử lý nguy cơ phổ biến, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
3. Tiêu chí kiểm soát người sử dụng cuối cùng và mục đích sử dụng cuối cùng, bao gồm:
a) Người sử dụng cuối cùng có liên quan đến tổ chức, cá nhân bị chỉ định, danh sách cảnh báo, quốc gia, vùng lãnh thổ có nguy cơ cao về phổ biến, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt;
b) Mục đích sử dụng cuối cùng không phù hợp với nhu cầu, chức năng, lĩnh vực hoạt động, thông tin, tài liệu đã cung cấp của tổ chức, cá nhân có liên quan;
c) Hàng hóa lưỡng dụng, dịch vụ có đặc tính kỹ thuật, công dụng hoặc khả năng ứng dụng để nghiên cứu, phát triển, sản xuất, chế tạo, vận hành, bảo dưỡng, sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt hoặc phương tiện mang vũ khí hủy diệt hàng loạt;
d) Tuyến vận chuyển, chuỗi cung ứng, bên trung gian, bên môi giới, bên nhận ủy thác, bên đại diện và giao dịch có dấu hiệu bất thường hoặc nhằm che giấu người sử dụng cuối cùng, mục đích sử dụng cuối cùng;
đ) Hồ sơ, thông tin, tài liệu, dữ liệu không thống nhất, không đầy đủ, có dấu hiệu bị che giấu, giả mạo, thay đổi bất thường hoặc tổ chức, cá nhân từ chối cung cấp thông tin, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền;
e) Có thông tin cảnh báo, khuyến nghị, thông tin trao đổi từ cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, tổ chức quốc tế hoặc yêu cầu thực hiện điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc có liên quan.
4. Biện pháp kiểm soát người sử dụng cuối cùng và mục đích sử dụng cuối cùng, bao gồm:
a) Yêu cầu cung cấp, bổ sung, giải trình hồ sơ, thông tin, tài liệu, dữ liệu có liên quan;
b) Đối chiếu, xác minh thông tin về người sử dụng cuối cùng, mục đích sử dụng cuối cùng, bên thụ hưởng, chủ sở hữu hưởng lợi, chủ thể kiểm soát thực tế, tuyến vận chuyển, chuỗi cung ứng;
c) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cam kết về người sử dụng cuối cùng, mục đích sử dụng cuối cùng;
d) Áp dụng cảnh báo, theo dõi, kiểm tra phù hợp;
đ) Áp dụng biện pháp quản lý, kiểm soát khác theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.
5. Việc kiểm soát người sử dụng cuối cùng và mục đích sử dụng cuối cùng phải dựa trên đánh giá rủi ro, không làm phát sinh nghĩa vụ trùng lặp với pháp luật chuyên ngành. Việc áp dụng biện pháp kiểm soát người sử dụng cuối cùng và mục đích sử dụng cuối cùng quy định tại khoản 4 Điều này phải bằng văn bản, trong đó nêu rõ căn cứ, đối tượng, phạm vi, biện pháp, thời hạn, trách nhiệm thực hiện và quyền khiếu nại, khởi kiện của tổ chức, cá nhân.
6. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục, thẩm quyền áp dụng biện pháp kiểm soát người sử dụng cuối cùng, mục đích sử dụng cuối cùng quy định tại khoản 4 Điều này.
Nguyên văn theo Công báo. Bấm vào một khoản để sao chép trích dẫn khoản đó.