Điều 5 Nghị định số 213/2026/NĐ-CP: Thông báo việc tạm giữ, tạm giam và xác định quốc tịch của người bị tạm giữ, người bị tạm giam
Chương II CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ GIAM GIỮ
Điều 5. Thông báo việc tạm giữ, tạm giam và xác định quốc tịch của người bị tạm giữ, người bị tạm giam
1. Trường hợp người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người nước ngoài hoặc khai báo là người nước ngoài, cơ quan đang thụ lý vụ án phải gửi ngay văn bản đến Bộ Ngoại giao (Cục Lãnh sự hoặc Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh đối với các tỉnh, thành phố từ thành phố Đà Nẵng trở vào phía Nam) để thông báo việc tạm giữ, tạm giam người nước ngoài cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người đó mang quốc tịch và đề nghị xác nhận quốc tịch đối với trường hợp khai báo là người nước ngoài. Văn bản thông báo ghi rõ: họ và tên; ngày, tháng, năm sinh; quốc tịch; lý do tạm giữ, tạm giam; thời hạn tạm giữ, tạm giam; nơi tạm giữ, tạm giam; đầu mối liên hệ của cơ quan đang thụ lý vụ án; kèm theo bản chụp giấy tờ tùy thân của người bị tạm giữ, người bị tạm giam.
2. Sau khi nhận được văn bản của cơ quan đang thụ lý vụ án, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự liên quan về việc tạm giữ, tạm giam người nước ngoài; đề nghị xác nhận quốc tịch của người bị tạm giữ, người bị tạm giam (nếu cần thiết). Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được kết quả, Bộ Ngoại giao thông báo bằng văn bản cho cơ quan đang thụ lý vụ án. Cơ quan đang thụ lý vụ án có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ sở giam giữ biết để phối hợp quản lý.
Nguyên văn theo Công báo. Bấm vào một khoản để sao chép trích dẫn khoản đó.