ThuVienPhapLy.comTra cứu văn bản pháp luật

Điều 11 Thông tư liên tịch số 12/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP-BNG: Thực hiện yêu cầu chuyển giao tạm thời người đang bị tạm giam hoặc đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam sang nước ngoài để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ

Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ

Tình trạng văn bản: Chưa xác định. Đã có hiệu lực từ ngày 01/07/2026. Kho chưa ghi nhận văn bản nào tuyên bố hết hiệu lực toàn bộ văn bản này, nhưng chưa đối chiếu đủ để khẳng định còn hiệu lực.
Xem trong toàn văn

Điều 11. Thực hiện yêu cầu chuyển giao tạm thời người đang bị tạm giam hoặc đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam sang nước ngoài để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ

1. Thẩm quyền quyết định chuyển giao tạm thời người đang bị tạm giam hoặc đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam sang nước ngoài để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ được thực hiện như sau:

a) Việc quyết định chuyển giao tạm thời người đang bị tạm giam tại Việt Nam sang nước ngoài để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự do Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định trong quá trình điều tra; do Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định trong quá trình truy tố; do Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quyết định trong quá trình chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử;

b) Việc quyết định chuyển giao tạm thời người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam sang nước ngoài để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự do Tòa án có thẩm quyền nơi người đó chấp hành án phạt tù quyết định.

2. Khi tiếp nhận văn bản yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự kèm theo văn bản cam kết theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 37 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự của cơ quan yêu cầu chuyển giao, cơ quan thực hiện yêu cầu tiến hành các hoạt động sau:

a) Trước khi quyết định chuyển giao tạm thời, cơ quan thực hiện yêu cầu phối hợp với cơ sở giam giữ tiến hành lấy ý kiến về việc chuyển giao tạm thời của người đang bị tạm giam hoặc người đang chấp hành án phạt tù. Trong quá trình lấy ý kiến, cơ quan thực hiện yêu cầu có trách nhiệm giải thích rõ cho người được chuyển giao về mục đích của việc chuyển giao; thời hạn chuyển giao và thời gian dự kiến lưu lại ở nước ngoài; quyền và nghĩa vụ của người được chuyển giao trong thời gian có mặt tại nước ngoài; thời gian bị áp giải và lưu lại ở nước ngoài được tính vào thời hạn tạm giam hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù; các biện pháp bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, điều kiện ăn ở, đi lại theo cam kết của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Việc giải thích và lấy ý kiến được lập thành biên bản trong đó ghi rõ thời gian, địa điểm làm việc; nội dung đã được giải thích; ý kiến đồng ý hoặc không đồng ý về việc chuyển giao tạm thời, có chữ ký hoặc điểm chỉ xác nhận của người được chuyển giao. Trường hợp người được chuyển giao tạm thời không đồng ý thì ghi rõ lý do và chấm dứt việc xem xét chuyển giao tạm thời;

b) Lấy ý kiến thống nhất của các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam, trừ trường hợp do Hội đồng xét xử quyết định;

c) Sau khi có quyết định chuyển giao của cơ quan có thẩm quyền, cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam hoặc cơ quan quản lý thi hành án hình sự ra lệnh trích xuất và thực hiện việc trích xuất theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự. Lệnh trích xuất phải ghi rõ mục đích “Chuyển giao tạm thời theo yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự”;

d) Căn cứ lệnh trích xuất của cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam hoặc cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ sở giam giữ hoặc cơ quan quản lý thi hành án hình sự có trách nhiệm kiểm tra, bàn giao người đang bị tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù cho cơ quan, người có nhiệm vụ áp giải. Cơ quan, người có nhiệm vụ áp giải phối hợp với cơ quan thực hiện yêu cầu và Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện việc áp giải người đang bị tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù đến địa điểm đã thỏa thuận để bàn giao người được trích xuất cho người có thẩm quyền của nước ngoài. Cơ quan thực hiện yêu cầu có trách nhiệm thông báo cho thân nhân của người đang bị tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù biết việc chuyển giao tạm thời người đó.

3. Việc giao người cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phải được lập thành biên bản giao nhận. Biên bản được lập bằng tiếng Việt và tiếng Anh, có giá trị như nhau, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Biên bản giao nhận gồm các nội dung cơ bản sau:

a) Thông tin cá nhân, tình trạng sức khỏe của người được chuyển giao tạm thời tại thời điểm giao người;

b) Các đồ vật, tài liệu cá nhân mang theo, nếu có;

c) Thời điểm bắt đầu tính thời hạn chuyển giao tạm thời;

d) Chữ ký của đại diện bên giao, đại diện bên nhận và người được chuyển giao.

4. Việc theo dõi, quản lý người được chuyển giao trong thời gian chuyển giao tạm thời được thực hiện như sau:

a) Trong thời gian người được chuyển giao tạm thời lưu lại ở nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với Bộ Ngoại giao theo dõi việc thực hiện cam kết của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài và tiếp nhận, xử lý thông tin liên quan đến tình trạng pháp lý, sức khỏe và thời hạn chuyển giao của người được chuyển giao. Trường hợp phát sinh vấn đề ảnh hưởng đến an toàn, quyền và lợi ích hợp pháp của người được chuyển giao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao kịp thời phối hợp với các cơ quan có liên quan để yêu cầu phía nước ngoài thực hiện đúng cam kết hoặc có biện pháp xử lý phù hợp;

b) Ngay sau khi nhận được thông báo về quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện, đặc xá, đại xá cho người đang chấp hành án phạt tù đã được chuyển giao tạm thời, cơ sở giam giữ thông báo cho cơ quan thực hiện yêu cầu để cơ quan thực hiện yêu cầu phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc chuyển cho Bộ Ngoại giao trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định chuyển hồ sơ qua kênh ngoại giao để thông báo cho phía nước ngoài. Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với Bộ Ngoại giao theo dõi việc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài bảo đảm quyền cho người đã có quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện, đặc xá, đại xá.

5. Việc trích xuất người bị kết án đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam sang nước ngoài để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ phải bảo đảm không làm gián đoạn việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện, đặc xá, đại xá nếu người đó đủ điều kiện trong thời gian ở nước ngoài.

6. Trường hợp người được chuyển giao tạm thời vẫn còn thời hạn tạm giam hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù, khi hết thời hạn chuyển giao hoặc khi hoàn thành mục đích tương trợ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với cơ quan thực hiện yêu cầu và các cơ quan có thẩm quyền đã tham gia thực hiện việc chuyển giao để tiếp nhận lại người đó và đưa về cơ sở giam giữ.

7. Việc quyết định chuyển giao tạm thời người đang bị tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam sang nước ngoài để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ phải được ghi rõ trong kết luận điều tra, cáo trạng và bản án, quyết định của Tòa án, hồ sơ thi hành án.

Nguyên văn theo Công báo. Bấm vào một khoản để sao chép trích dẫn khoản đó.

‹ Về toàn văn Thông tư liên tịch 12/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP-BNG quy định chi tiết một số điều của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự và việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong xử lý yêu cầu của nước ngoài về truy cứu trách nhiệm hình sự (14 điều, mục lục, lược đồ)