Điều 47 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 15/2026/QH16: Quyết định giải quyết bồi thường
Điều 47. Quyết định giải quyết bồi thường
1. Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ban hành quyết định giải quyết bồi thường trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây:
a) Biên bản kết quả thương lượng được lập;
b) Cơ quan giải quyết bồi thường nhận được đề nghị không tổ chức việc thương lượng của người yêu cầu bồi thường;
c) Người yêu cầu bồi thường hai lần từ chối nhận giấy mời tham gia thương lượng;
d) Người yêu cầu bồi thường hai lần không đến địa điểm thương lượng khi đã nhận giấy mời mà không có lý do chính đáng.
2. Quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực sau 60 ngày kể từ ngày người yêu cầu bồi thường nhận được quyết định giải quyết bồi thường, trừ trường hợp người yêu cầu bồi thường và cơ quan giải quyết bồi thường thỏa thuận quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực sớm hơn thời hạn quy định tại khoản này và được ghi rõ trong biên bản kết quả thương lượng.
3. Quyết định giải quyết bồi thường phải được gửi cho người yêu cầu bồi thường và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước có thẩm quyền trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
16. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 48 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 như sau:
“c) Giả mạo tài liệu, chứng cứ liên quan đến quyền yêu cầu bồi thường và việc yêu cầu bồi thường.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:
“3. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây, Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định hủy quyết định giải quyết bồi thường và giải quyết lại yêu cầu bồi thường:
a) Có hành vi thông đồng giữa người yêu cầu bồi thường với người giải quyết bồi thường, người có liên quan để trục lợi;
b) Theo yêu cầu của người yêu cầu bồi thường trong trường hợp người giải quyết bồi thường không đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 5 Điều 43 của Luật này hoặc việc thương lượng được thực hiện không đúng quy định của Luật này.”;
c) Bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 như sau:
“3a. Việc giải quyết lại yêu cầu bồi thường được thực hiện theo thủ tục quy định tại Chương V của Luật này, bắt đầu từ công việc, thủ tục làm phát sinh căn cứ hủy quyết định giải quyết bồi thường. Đối với những công việc, thủ tục đã được thực hiện đúng quy định của Luật này trước thời điểm phát sinh căn cứ hủy quyết định giải quyết bồi thường thì không phải thực hiện lại.”.
17. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 49 như sau:
“1. Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định hoãn giải quyết bồi thường trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày người yêu cầu bồi thường đề nghị cơ quan giải quyết bồi thường hoãn giải quyết yêu cầu bồi thường do ốm nặng có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật hoặc có lý do chính đáng khác mà không thể tự mình tham gia vào quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường.”.
18. Sửa đổi, bổ sung Điều 50 như sau:
“Điều 50. Tạm đình chỉ giải quyết yêu cầu bồi thường
1. Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết bồi thường trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây:
a) Cơ quan, người có thẩm quyền xem xét lại văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường;
b) Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ việc yêu cầu bồi thường.
2. Trường hợp tạm đình chỉ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản xem xét lại mà văn bản được xem xét lại vẫn là văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường thì Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định tiếp tục giải quyết bồi thường; trường hợp văn bản được xem xét lại không phải là văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản xem xét lại, Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định đình chỉ giải quyết bồi thường theo quy định tại Điều 51 của Luật này.
3. Trường hợp tạm đình chỉ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả giải quyết, Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định tiếp tục giải quyết bồi thường hoặc ra quyết định đình chỉ giải quyết bồi thường theo quy định tại Điều 51 của Luật này.
4. Quyết định tạm đình chỉ, quyết định tiếp tục giải quyết bồi thường phải được gửi cho người yêu cầu bồi thường, cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước có thẩm quyền và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.”.
19. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 51 như sau:
“1. Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định đình chỉ giải quyết bồi thường trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây:
a) Người yêu cầu bồi thường rút yêu cầu bồi thường sau khi cơ quan giải quyết bồi thường tiến hành xác minh thiệt hại nhưng chưa ban hành quyết định giải quyết bồi thường hoặc đã ban hành quyết định giải quyết bồi thường nhưng chưa có hiệu lực;
b) Người bị thiệt hại chết mà không có người thừa kế; tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại mà không có tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ;
c) Có quyết định hủy quyết định giải quyết bồi thường trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 48 của Luật này.”.
20. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 52 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1 như sau:
“b) Người yêu cầu bồi thường rút yêu cầu bồi thường trước khi cơ quan giải quyết bồi thường tiến hành xác minh thiệt hại.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:
“2. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết bồi thường quy định tại Điều 47 của Luật này hoặc hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 47 của Luật này mà cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại không ra quyết định giải quyết bồi thường thì người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường.”.
21. Sửa đổi, bổ sung Điều 53 như sau:
“Điều 53. Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự về yêu cầu bồi thường Tòa án nhân dân khu vực nơi cư trú, làm việc của người yêu cầu bồi thường hoặc nơi đặt trụ sở của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại theo lựa chọn của người yêu cầu bồi thường là Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm yêu cầu bồi thường.”.
22. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 56 như sau:
“2. Việc phục hồi danh dự đối với cá nhân là người bị thiệt hại trong trường hợp bị buộc thôi việc trái pháp luật, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trái pháp luật được thực hiện bằng hình thức đăng báo xin lỗi và cải chính công khai.”.
23. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 57 như sau:
“1. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường hoặc kể từ ngày có bản án, quyết định quy định tại Điều 55 của Luật này có hiệu lực pháp luật, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người bị thiệt hại về việc Nhà nước tổ chức thực hiện phục hồi danh dự.”.
24. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 58 như sau:
“a) Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý hoặc yêu cầu của người bị thiệt hại về việc phục hồi danh dự, Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm tổ chức trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai;”.
25. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 59 như sau:
“1. Việc đăng báo xin lỗi và cải chính công khai quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 56 của Luật này được thực hiện như sau:
a) Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý hoặc yêu cầu của người bị thiệt hại về việc phục hồi danh dự, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại ở trung ương có trách nhiệm đăng báo xin lỗi và cải chính công khai trên 01 báo trung ương và 01 báo địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú trong trường hợp người bị thiệt hại là cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở trong trường hợp người bị thiệt hại là pháp nhân thương mại trong 03 số liên tiếp; đăng tải nội dung xin lỗi và cải chính công khai trên Cổng thông tin điện tử (nếu có) của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại;
b) Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý hoặc yêu cầu của người bị thiệt hại về việc phục hồi danh dự, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại ở địa phương có trách nhiệm đăng báo xin lỗi và cải chính công khai trên 01 báo địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú trong trường hợp người bị thiệt hại là cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở trong trường hợp người bị thiệt hại là pháp nhân thương mại trong 03 số liên tiếp; đăng tải nội dung xin lỗi và cải chính công khai trên Cổng thông tin điện tử (nếu có) của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại;
c) Ngay sau khi đăng báo xin lỗi và cải chính công khai, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm gửi báo đó tới người bị thiệt hại và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị thiệt hại cư trú trong trường hợp người bị thiệt hại là cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở trong trường hợp người bị thiệt hại là pháp nhân thương mại để niêm yết công khai tại trụ sở.”.
26. Sửa đổi, bổ sung các điều 60, 61 và 62 như sau:
“Điều 60. Kinh phí thực hiện công tác bồi thường nhà nước
1. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm kinh phí cho công tác bồi thường nhà nước, bao gồm:
a) Kinh phí cho công tác quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước;
b) Kinh phí chi trả cho người bị thiệt hại và chi phí cho việc định giá tài sản, giám định thiệt hại.
2. Trường hợp cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách trung ương thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách trung ương.
3. Trường hợp cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách địa phương thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách địa phương.
Nguyên văn theo Công báo. Bấm vào một khoản để sao chép trích dẫn khoản đó.