ThuVienPhapLy.comTra cứu văn bản pháp luật

Điều 7 Nghị định số 372/2026/NĐ-CP: Khoá bí mật, khoá công khai và chữ ký điện tử chuyên dùng phục vụ hoạt động định danh, xác thực, truy vết dữ liệu

Chương II HOẠT ĐỘNG ĐỊNH DANH, XÁC THỰC, TRUY XUẤT NGUỒN GỐC SẢN PHẨM, HÀNG HOÁ

Tình trạng văn bản: Chưa có hiệu lực. Văn bản ghi có hiệu lực từ ngày 01/01/2027.
Xem trong toàn văn

Điều 7. Khoá bí mật, khoá công khai và chữ ký điện tử chuyên dùng phục vụ hoạt động định danh, xác thực, truy vết dữ liệu

1. Khoá bí mật và khoá công khai là cặp khoá mật mã không đối xứng do mỗi tổ chức, cá nhân tham gia Nền tảng chuỗi khối quốc gia tự tạo lập, trong đó:

a) Khoá bí mật do bên phát hành chứng chỉ số, bên tạo lập và cung cấp bằng chứng số, bên sử dụng bằng chứng số tạo lập, nắm giữ và quản lý; được sử dụng để tạo lập chữ ký điện tử chuyên dùng lên chứng chỉ số, bằng chứng số hoặc giải mã dữ liệu; không được tiết lộ hoặc chuyển giao cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào, bao gồm Trung tâm dữ liệu quốc gia;

b) Khóa công khai được bên phát hành chứng chỉ số, bên tạo lập và cung cấp bằng chứng số, bên sử dụng bằng chứng số tạo lập, được Trung tâm dữ liệu quốc gia chấp thuận đăng ký và lưu trên Nền tảng chuỗi khối quốc gia thông qua tài liệu định danh phi tập trung quy định tại khoản 5 Điều này. Khoá công khai được sử dụng để xác minh chữ ký điện tử chuyên dùng và kiểm tra tính toàn vẹn của chứng chỉ số, bằng chứng số hoặc mã hoá dữ liệu gửi đến chủ thể, bảo đảm an toàn trong các giao dịch điện tử.

2. Chữ ký điện tử chuyên dùng phục vụ hoạt động định danh, xác thực, truy vết dữ liệu là chữ ký điện tử do Trung tâm Dữ liệu quốc gia cấp cho bên phát hành chứng chỉ số, bên tạo lập và cung cấp bằng chứng số, bên sử dụng bằng chứng số theo điểm a khoản 1 Điều 22 Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15, được tạo lập trên cơ sở khoá bí mật và khoá công khai quy định tại Điều 7 Nghị định này. Tổ chức, cá nhân tự nắm giữ, quản lý khoá bí mật và tự thực hiện hành vi ký bằng khoá bí mật của mình. Chữ ký điện tử chuyên dùng quy định tại khoản này được sử dụng trong phạm vi:

a) Hoạt động nội bộ của cơ quan, tổ chức tạo lập;

b) Hoạt động giữa các tổ chức, cá nhân tham gia Nền tảng chuỗi khối quốc gia và các hệ thống, ứng dụng do Trung tâm dữ liệu quốc gia quản lý, vận hành;

c) Hoạt động xác nhận, xác thực, truy vết dữ liệu và các giao dịch điện tử khác trong phạm vi được quy định tại Nghị định này và pháp luật chuyên ngành.

3. Chữ ký điện tử chuyên dùng phục vụ hoạt động định danh, xác thực, truy vết dữ liệu được bảo đảm bởi chứng thư chữ ký điện tử chuyên dùng do Trung tâm dữ liệu quốc gia tạo lập dưới dạng chứng chỉ số và cấp cho tổ chức, cá nhân trên cơ sở danh tính điện tử đã được xác thực và khoá công khai đã được đăng ký theo quy định tại Điều 7 Nghị định này. Chữ ký điện tử chuyên dùng được bảo đảm bởi chứng thư chữ ký điện tử do Trung tâm dữ liệu quốc gia tạo lập, cấp theo quy định tại Nghị định này được xem là đáp ứng đủ các yêu cầu tại khoản 2 Điều 22 Luật Giao dịch điện tử theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 23/2025/NĐ-CP. Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử chuyên dùng phục vụ hoạt động định danh, xác thực, truy vết dữ liệu được xác định theo quy định tại Điều 23 Luật Giao dịch điện tử.

4. Tài liệu định danh phi tập trung là tài liệu dữ liệu chứa mã DID và khoá công khai của chủ thể đó, được lưu trữ và quản lý trên Nền tảng chuỗi khối quốc gia, là phương tiện công bố khoá công khai và căn cứ để bên sử dụng bằng chứng số tra cứu, kiểm tra hiệu lực chữ ký và xác minh danh tính của chủ thể một cách độc lập, không phụ thuộc vào bên trung gian. Tài liệu định danh phi tập trung có giá trị là chứng thư điện tử do Trung tâm Dữ liệu quốc gia cấp phát, chứa các nội dung thoả thuận và xác nhận của các tổ chức, cá nhân bao gồm bên phát hành chứng chỉ số, bên tạo lập và cung cấp bằng chứng số, bên sử dụng bằng chứng số khi tham gia, sử dụng Nền tảng chuỗi khối quốc gia, bao gồm tối thiểu các nội dung sau:

a) Xác nhận việc bên phát hành chứng chỉ số, bên tạo lập và cung cấp bằng chứng số, bên sử dụng bằng chứng số tự nguyện thỏa thuận lựa chọn công nghệ định danh phi tập trung, chứng chỉ số, bằng chứng số, chữ ký điện tử và các thông điệp dữ liệu có liên quan làm phương tiện xác lập, thực hiện giao dịch điện tử theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử;

b) Xác nhận chữ ký điện tử được tạo lập bằng khóa bí mật tương ứng với khóa công khai của các bên là chữ ký điện tử hợp pháp, không bị phủ nhận giá trị pháp lý và giá trị chứng cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Giao dịch điện tử;

c) Cam kết bảo đảm thông tin trong tài liệu định danh phi tập trung, chứng chỉ số, bằng chứng số và các thông điệp dữ liệu có liên quan luôn có thể truy cập, tra cứu, kết xuất và sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh để tham chiếu khi cần thiết, đáp ứng điều kiện có giá trị như văn bản theo quy định tại Điều 9 Luật Giao dịch điện tử;

d) Xác nhận cơ chế mật mã học, chữ ký điện tử, cấu trúc lưu trữ chuỗi khối, phương thức lưu trữ trên Nền tảng chuỗi khối quốc gia và các biện pháp kỹ thuật có liên quan bảo đảm tính toàn vẹn của dữ liệu trong tài liệu định danh phi tập trung, chứng chỉ số và bằng chứng số kể từ thời điểm dữ liệu được khởi tạo lần đầu dưới dạng hoàn chỉnh; đáp ứng điều kiện có giá trị như bản gốc theo quy định tại Điều 10 Luật Giao dịch điện tử;

đ) Thừa nhận giá trị pháp lý, giá trị chứng cứ và độ tin cậy của phương thức khởi tạo, ký, gửi, nhận, lưu trữ, tra cứu, kiểm tra, xác thực tài liệu định danh phi tập trung, chứng chỉ số, bằng chứng số và các thông điệp dữ liệu có liên quan trên Nền tảng chuỗi khối quốc gia; không phủ nhận giá trị pháp lý, giá trị chứng cứ của dữ liệu chỉ vì dữ liệu được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu, chứng chỉ số hoặc bằng chứng số theo quy định tại Điều 11 Luật Giao dịch điện tử;

e) Xác lập quy trình thông báo, xử lý lỗi kỹ thuật, lỗi nhập liệu và quyền rút lại thông tin có lỗi trong trường hợp giao dịch điện tử, chứng chỉ số, bằng chứng số hoặc thông điệp dữ liệu có liên quan được khởi tạo, gửi, nhận, xử lý thông qua hệ thống thông tin tự động mà người khởi tạo không có cơ hội kiểm tra, chỉnh sửa lỗi trước khi gửi, theo quy định tại Điều 18 Luật Giao dịch điện tử;

g) Xác nhận hiệu lực pháp lý của hợp đồng điện tử được xác lập, thực hiện thông qua sự tương tác tự động giữa hệ thống thông tin, ví số, tác tử thông minh hoặc phương tiện điện tử khác của các bên trên cơ sở tài liệu định danh phi tập trung, chứng chỉ số, bằng chứng số, chữ ký điện tử hoặc hệ thống thông tin tự động mà không bắt buộc phải có sự kiểm tra, can thiệp thủ công của con người vào từng hành vi giao kết cụ thể, theo quy định tại Điều 34 và Điều 36 Luật Giao dịch điện tử;

h) Xác nhận hiệu lực pháp lý của đề nghị giao kết hợp đồng điện tử, chấp nhận giao kết hợp đồng điện tử và các thông điệp dữ liệu được sử dụng trong một phần hoặc toàn bộ quá trình giao kết hợp đồng điện tử thông qua chứng chỉ số, bằng chứng số hoặc chữ ký điện tử của Bên phát hành chứng chỉ số, Bên tạo lập và cung cấp bằng chứng số hoặc Bên sử dụng bằng chứng số; quy trình gửi, nhận và hiệu lực của các thông điệp dữ liệu này được xác lập theo điều khoản vận hành hạ tầng tự động quy định trong tài liệu định danh phi tập trung, theo quy định tại Điều 35 và Điều 37 Luật Giao dịch điện tử;

i) Xác nhận hiệu lực pháp lý của thông báo điện tử, xác nhận điện tử, yêu cầu thay đổi trạng thái, yêu cầu hủy bỏ, đình chỉ, thu hồi hoặc cập nhật chứng chỉ số, bằng chứng số và các thông điệp dữ liệu khác được phát hành, gửi, nhận, xử lý trong hệ thống định danh phi tập trung; các thông báo, xác nhận, lệnh điều phối và yêu cầu này có giá trị pháp lý như thông báo bằng văn bản theo quy định tại Điều 38 Luật Giao dịch điện tử.

k) Các nội dung về quy trình, hình thức và tổ chức hoạt động xác thực dữ liệu trong phạm vi sở hữu của tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu dữ liệu, chủ quản dữ liệu thông qua Nền tảng chuỗi khối quốc gia theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 165/2025/NĐ-CP;

l) Các nội dung khác do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin mạng, an ninh mạng và pháp luật có liên quan.

5. Chủ thể tự tạo lập khoá bí mật có trách nhiệm quản lý, sử dụng đúng mục đích, không chuyển giao quyền kiểm soát trái quy định và thông báo kịp thời cho Trung tâm dữ liệu quốc gia khi có nguy cơ mất an ninh mạng, lộ lọt hoặc mất kiểm soát khóa bí mật. Trình tự, phương thức thông báo và xử lý thực hiện theo hướng dẫn kỹ thuật của Bộ Công an quy định tại khoản 6 Điều này.

6. Bộ Công an có trách nhiệm hướng dẫn về kỹ thuật, nghiệp vụ trong việc tạo lập, đăng ký, sử dụng, thu hồi chữ ký điện tử chuyên dùng phục vụ hoạt động định danh, xác thực, truy vết dữ liệu trong phạm vi Nghị định này. Trung tâm dữ liệu quốc gia có trách nhiệm hướng dẫn xây dựng tài liệu định danh phi tập trung bảo đảm đáp ứng các nội dung theo quy định tại khoản 5 Điều này.

Nguyên văn theo Công báo. Bấm vào một khoản để sao chép trích dẫn khoản đó.

‹ Về toàn văn Nghị định 372/2026/NĐ-CP quy định về hoạt động định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá (38 điều, mục lục, lược đồ)