ThuVienPhapLy.comTra cứu văn bản pháp luật

Điều 8 Nghị định số 372/2026/NĐ-CP: Khởi tạo, chia sẻ và xác thực chứng chỉ số, bằng chứng số để định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa

Chương II HOẠT ĐỘNG ĐỊNH DANH, XÁC THỰC, TRUY XUẤT NGUỒN GỐC SẢN PHẨM, HÀNG HOÁ

Tình trạng văn bản: Chưa có hiệu lực. Văn bản ghi có hiệu lực từ ngày 01/01/2027.
Xem trong toàn văn

Điều 8. Khởi tạo, chia sẻ và xác thực chứng chỉ số, bằng chứng số để định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa

1. Mỗi thông tin, dữ liệu phản ánh sản phẩm, hàng hoá và các hoạt động gắn với sản phẩm, hàng hoá, khi được yêu cầu định danh và xác thực để bảo đảm độ tin cậy phải được ghi nhận bằng các chứng chỉ số và bằng chứng số thông qua Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá theo quy định tại Nghị định này và các quy định pháp luật khác có liên quan.

2. Việc khởi tạo, chia sẻ, xác thực và sử dụng chứng chỉ số, bằng chứng số phải tuân thủ quy định pháp luật về giao dịch điện tử, về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng và quy định pháp luật có liên quan. Giá trị pháp lý của chứng chỉ số, bằng chứng số và thông điệp dữ liệu có liên quan được xác định theo quy định pháp luật về giao dịch điện tử.

3. Mô hình khởi tạo, chia sẻ và xác thực chứng chỉ số, bằng chứng số quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện trên cơ sở mã định danh phi tập trung, khoá bí mật, khoá công khai, chữ ký điện tử chuyên dùng và tài liệu định danh phi tập trung quy định tại Điều 6, 7 Nghị định này, gắn với mã UID của sản phẩm, hàng hoá trên Nền tảng chuỗi khối quốc gia. Vai trò của các bên được xác định như sau:

a) Bên phát hành chứng chỉ số gồm tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến, gia công, kinh doanh, phân phối, nhập khẩu, vận chuyển, lưu kho sản phẩm, hàng hoá; cơ quan nhà nước có thẩm quyền; tổ chức đánh giá sự phù hợp, tổ chức chứng nhận và tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền xác nhận thông tin, dữ liệu gắn với sản phẩm, hàng hoá. Bên phát hành chứng chỉ số khởi tạo chứng chỉ số đối với dữ liệu chủ, dữ liệu phát sinh tại từng công đoạn truy xuất nguồn gốc và các chứng nhận, giấy tờ thuộc thẩm quyền, phạm vi trách nhiệm của mình; ký chứng chỉ số bằng khoá bí mật do mình tạo lập, nắm giữ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7 Nghị định này và ghi nhận chứng chỉ số thông qua Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá lên Nền tảng chuỗi khối quốc gia;

b) Bên tạo lập và cung cấp bằng chứng số gồm Trung tâm Sáng tạo, khai thác dữ liệu thuộc Trung tâm dữ liệu quốc gia và tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu dữ liệu, chủ quản dữ liệu về sản phẩm, hàng hoá. Trung tâm Sáng tạo, khai thác dữ liệu thuộc Trung tâm dữ liệu quốc gia, trên cơ sở các chứng chỉ số đã được ghi nhận trên Nền tảng chuỗi khối quốc gia, thực hiện tổng hợp một hoặc nhiều chứng chỉ số thành bằng chứng số gắn với mã UID của sản phẩm, hàng hoá, ký bằng khoá bí mật của mình và cung cấp cho bên sử dụng bằng chứng số theo yêu cầu hợp lệ, bảo đảm cơ chế tiết lộ dữ liệu tối thiểu và chia sẻ dữ liệu ẩn danh theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định này. Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu dữ liệu tự tạo lập và cung cấp bằng chứng số đối với dữ liệu do mình sở hữu; trường hợp việc tạo lập, cung cấp bằng chứng số được thực hiện thông qua Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá thì phạm vi dữ liệu được đóng gói do chủ sở hữu dữ liệu quyết định;

c) Bên sử dụng bằng chứng số gồm người tiêu dùng; cơ quan quản lý nhà nước; cơ quan hải quan và lực lượng chức năng tại khu vực cửa khẩu; tổ chức, cá nhân tham gia chuỗi cung ứng và tổ chức, cá nhân khác có nhu cầu kiểm chứng sản phẩm, hàng hoá. Bên sử dụng bằng chứng số đưa ra yêu cầu kiểm chứng dữ liệu, tiếp nhận, kiểm tra và xác thực bằng chứng số thông qua mã DID và khoá công khai được công bố tại tài liệu định danh phi tập trung quy định tại Điều 6, 7 Nghị định này. Người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân thực hiện tra cứu, xác thực bằng chứng số thông qua Ứng dụng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá quy định tại Điều 15 Nghị định này;

4. Yêu cầu đối với hoạt động khởi tạo, chia sẻ chứng chỉ số, bằng chứng số

a) Chứng chỉ số được tạo lập bởi bên phát hành chứng chỉ số phải đảm bảo mô tả các thuộc tính của đối tượng chứng chỉ số phản ánh, được ký bằng khóa bí mật của bên phát hành chứng chỉ số;

b) Bên phát hành chứng chỉ số có trách nhiệm công bố khóa công khai và mã DID tương ứng, cập nhật dữ liệu về thời điểm phát hành, thời hạn hiệu lực, trạng thái của chứng chỉ số;

c) Việc chia sẻ chứng chỉ số, bằng chứng số phải đảm bảo cung cấp thông tin, dữ liệu trong phạm vi cần thiết, phù hợp với mục đích xử lý, sử dụng dữ liệu đã được xác định. Chứng chỉ số phải được mã hoá và lưu trữ an toàn, bảo đảm khả năng xuất trình khi có yêu cầu hợp lệ.

5. Bên sử dụng bằng chứng số có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc tối thiểu hóa dữ liệu khi yêu cầu chia sẻ dữ liệu; chỉ yêu cầu, tiếp nhận, kiểm tra, xác thực và sử dụng những dữ liệu cần thiết, phù hợp với mục đích sử dụng hợp pháp.

6. Yêu cầu đối với hoạt động xác thực chứng chỉ số, bằng chứng số

a) Việc xác thực bằng chứng số phải được thực hiện trên cơ sở yêu cầu hợp lệ của bên sử dụng bằng chứng số, trong đó nêu rõ mục đích sử dụng và phạm vi dữ liệu cần xác thực;

b) Việc xác thực chứng chỉ số, bằng chứng số được thực hiện qua mã DID, khóa công khai của các bên nhằm kiểm tra tính toàn vẹn và thời hạn hiệu lực của chứng chỉ số, bằng chứng số.

7. Trung tâm dữ liệu quốc gia cung cấp công cụ xác thực và cơ chế tra cứu; bên phát hành chứng chỉ số chịu trách nhiệm về tính chính xác, hợp pháp của chứng chỉ số; bên tạo lập và cung cấp bằng chứng số chịu trách nhiệm về việc tạo lập và cung cấp bằng chứng số; bên sử dụng bằng chứng số chỉ được yêu cầu và sử dụng dữ liệu trong phạm vi, mục đích hợp lệ.

8. Bộ Công an có trách nhiệm hướng dẫn về kỹ thuật, nghiệp vụ trong việc khởi tạo, chia sẻ, sử dụng chứng chỉ số, bằng chứng số.

Nguyên văn theo Công báo. Bấm vào một khoản để sao chép trích dẫn khoản đó.

‹ Về toàn văn Nghị định 372/2026/NĐ-CP quy định về hoạt động định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá (38 điều, mục lục, lược đồ)